Đông y chữa Ung thư Tuyến Tiền liệt



Mặc dù các triệu chứng lâm sàng của ung thư tiền liệt tuyến xuất hiện chậm, những tiến bộ trong phát hiện về chẩn đoán (PSA, siêu âm và sinh thiết) cho phép chẩn đoán ung thư trong giai đoạn khu trú để điều trị có kết quả. Hiện nay chưa có biện pháp hữu hiệu nào để điều trị ung thư tiền liệt tuyến khi đã có di căn.
1.Giai đoạn ung thư khu trú
Các phương pháp:
1)Cắt bỏ toàn bộ tiền liệt tuyến cùng với túi tinh và bóng tinh. Young (1964) đã đề xướng phương pháp này. Năm 1982, Walsh và Donker đã cải tiến phương pháp này bằng cách mổ sau xương mu, cầm máu kỹ tĩnh mạch sâu lưng dương vật và tránh làm tổn thương các cuống thần kinh mạch máu dẫn đến vật hang. Trước khi tiến hành phẫu thuật cắt bỏ tiền liệt tuyến, cần nạo vét các hạch chậu và xét nghiệm tổ chức học tức thì. Tuy nhiên, đây là một phẫu thuật triệt để, nhưng phức tạp, tỷ lệ tử vong là 1%. Tỷ lệ đái rỉ sau mổ là 5%, tỷ lệ bất lực là 40-50%. Phẫu thuật cắt bỏ Tiền liệt tuyến cũng có thể được tiến hành qua đường tầng sinh môn. Nhìn chung phẫu thuật này chỉ dành cho những bệnh nhân dưới 60-65 tuổi.
2)Điều trị quang tuyến có khả năng điều trị triệt để, tuy thời gian sống khỏi bệnh sau 3 năm và 10 năm thấp hơn điều trị cắt bỏ bằng phẫu thuật. Điều trị quang tuyến từ bên ngoài với tổng liều diệt u là 6000-7000 rads, với liều 200 rads mỗi ngày, trong 5-6 tuần. Đây là phương pháp điều trị quang tuyến thông dụng nhất. Các biến chứng bao gồm viêm bàng quang, viêm trực tràng, phù chi dưới, ỉa chảy, bất lực.
3)Điều trị quang tuyến khác là cắm kim 1251 phóng xạ vào ngay tiền liệt tuyến. Nhờ vậy, các tác dụng phụ được giảm bớt. Trong một số trường hợp, kết hợp 2 phương pháp trên: cắm vùng phóng xạ 198 AU với liều 3000-3500 rads kết hợp với điều trị quang tuyến từ bên ngoài (6000-7000 rads).
Trong mọi trường hợp, kiểm tra hiệu quả điều trị bằng định lượng PSA huyết thanh. Trong trường hợp có ung thư xâm lấn ở rìa tiền liệt tuyến, nên kết hợp điều trị với quang tuyến hay điều trị bằng hormon.
Chỉ định:
a)Cắt bỏ triệt để tiền liệt tuyến được sử dụng cho các bệnh nhân tương đối còn trẻ, khỏe mạnh, kỳ vọng sống trên 10 năm, lúc ung thư ở các giai đoạn T1 và T2.
b)Điều trị quang tuyến được áp dụng cho các bệnh nhân cao tuổi hơn, lúc ung thư ở giai đoạn T2 và T3.
2.Giai đoạn ung thư đã di căn
Lúc ung thư đã di căn, điều trị chỉ là tạm thời. Điều trị bằng hormon dựa trên các công trình của Huggins C.B (1941). Chuyển hóa của các tế bào ung thư tiền liệt tuyến phụ thuộc vào androgen, sau khi được biến thành dihydrotestoteron.
Tinh hoàn sản xuất 90% androgen, dưới dạng testosteron. Phần androgen còn lại xuất phát từ vỏ thượng thận. Hormon LH (Luteinizing hormon), dưới sự điều khiển của LHRH (LH releasing hormon), chỉ huy sự sản xuất testosteron của tinh hoàn.
Để tránh tác động của androgen đối với các tế bào ung thư tiền liệt tuyến, có thể cắt bỏ tinh hoàn bằng phẫu thuật, cắt bỏ tinh hoàn bằng thuốc, với estrogen steroid, ức chế các thụ thể của androgen với các lợi kháng androgen.
Các phương pháp và thuốc được sử dụng
a)Cắt bỏ tinh hoàn hai bên cũng có thể thực hiện bằng cách cắt bỏ mô của tinh hoàn dưới bao.
b) Các estrogen được sử dụng dưới dạng diethylstilboestrol, một loại estrogen tổng hợp, có tác dụng ức chế sản xuất LH của tuyến yên, do đó hạn chế sự tiết testosteron. Estrogen cũng ức chế men 5 alpha-reductase ở ngay khu vực Tiền liệt tuyến. Người ta cũng dùng diphosphat dietylstilboestrol (ST52) và chlolrotrianisen (TACE). Liều dùng duy trì là 1-2mg/ngày. Nguy cơ của loại thuốc này là gây biến chứng về tim mạch.
c)Sau khi Sally phát hiện cấu trúc của LHRH, người ta tìm ra được những chất tương tự LHRH, nhưng mạnh hơn rất nhiêu lần. Nếu được sử dụng kéo dài. LHRH sẽ gây ức chế LH, sau một đợt kích thích LH. Vì vậy nên dùng các chất kháng androgen 15 ngày trước khi dùng các loại thuốc này. Các loại thuốc thường dùng là: buserelin, leuprolid, zoladex, dưới dạng tiêm hay viên nhỏ đặt dưới da.
d)Các loại kháng androgen bao gồm các thuốc ức chế tổng hợp androgen và các thuốc ức chế tác dụng của androgen.
+Các thuốc ức chế tổng hợp androgen, bao gồm aminoglute thimide, ketoconazole, và spironnolactone. Bằng cách tác động trên các men phụ thuộc cytochrome P450, ketoconazole ức chế tổng hợp androgen của tinh hoàn và của thượng thận. Tác dụng nhanh và mạnh nhưng lại gây nhiều tác dụng phụ như nôn và độc với gan.
+Các thuốc ức chế tác dụng của androgen bao gồm loại kháng androgen steroid (cyproteron acetat) và các loại kháng androgen không steroid (nilutamid và flutamid). Bằng cách tranh giành các thụ thể của dihydrotestosteron, các thuốc này ít gây tác dụng phụ,
Chỉ định
-Lúc ung thư ở giai đoạn T3, không sử dụng phẫu thuật, mà điều trị bằng hormon hay quang tuyến.
-Khi ung thư ở giai đoạn T4, cắt tinh hoàn hai bên kết hợp với các loại kháng androgen (flutamid) là biện pháp thông dụng nhất.
3.Giai đoạn thoát ly của ung thư tiền liệt tuyến
Lúc này không còn có sự đáp ứng với điều trị hormon nữa. Nên sử dụng các loại estrogen liều cao, hoặc loại kháng androgen mạnh như ketoconazo

source: https://samurai-weapons.net

Xem thêm các bài viết về Sức Khỏe: https://samurai-weapons.net/category/suc-khoe/

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *